Giải thích câu hỏi
Thuật ngữ y học "Atelectasis" được dịch chính xác sang tiếng Việt là
xẹp phổi. Xẹp phổi là tình trạng một phần hoặc toàn bộ phổi không nở ra hoàn toàn mà co lại, dẫn đến hiện tượng xẹp (collapse). Các thuật ngữ khác trong phần lựa chọn có cơ chế bệnh sinh hoàn toàn khác nhau nên cần phân biệt rõ ràng.
Viêm phổi (Pneumonia) là tình trạng viêm nhu mô phổi do tác nhân gây bệnh, còn
viêm phế quản (Bronchitis) là viêm niêm mạc phế quản.
Phù phổi (Pulmonary edema) là tình trạng dịch tích tụ bất thường trong mô kẽ hoặc lòng phế nang, trong khi
viêm màng phổi (Pleurisy) là tình trạng viêm xảy ra ở màng phổi.
Sinh lý bệnh và cơ chế hình thành
Xẹp phổi được phân loại theo cơ chế thành hai nhóm lớn: do tắc nghẽn (obstructive) và không do tắc nghẽn (non-obstructive). Tài liệu tham khảo
[1] khi mô tả hội chứng thùy giữa phải (RMLS) cũng nêu rõ rằng nguyên nhân của xẹp phổi mạn tính là do cơ chế tắc nghẽn hoặc không tắc nghẽn.
Xẹp phổi do tắc nghẽn xảy ra khi đường thở bị bít tắc bởi các yếu tố bên trong hoặc bên ngoài lòng phế quản. Như trong ca bệnh của tài liệu tham khảo
[1], khi
nút nhầy (mucus plug) làm tắc phế quản, khí trong các phế nang ở phía xa chỗ tắc sẽ dần bị hấp thu vào dòng máu. Điều này làm áp lực trong phế nang giảm và phế nang xẹp lại, gọi là xẹp phổi do hấp thu (absorption atelectasis). Việc quan sát thấy phù nề niêm mạc ngay cả sau khi đã lấy bỏ nút nhầy qua nội soi phế quản cho thấy hẹp lòng đường thở do viêm cũng có thể là nguyên nhân gây xẹp phổi.
Xẹp phổi không do tắc nghẽn xảy ra khi không có sự bít tắc trực tiếp đường thở, mà do thay đổi áp lực trong khoang màng phổi hoặc suy giảm chức năng chất hoạt diện (surfactant). Tài liệu tham khảo
[2] nêu các lý do khiến xẹp phổi thường gặp ở chó sau gây mê toàn thân gồm
giảm dung tích cặn chức năng (FRC),
hấp thu oxy và
rối loạn chức năng chất hoạt diện (surfactant dysfunction). Gây mê toàn thân và giãn cơ làm giảm trương lực cơ hoành dẫn đến giảm FRC, khiến phế nang không duy trì được độ nở đủ ở cuối thì thở ra sinh lý và dễ bị xẹp. Bên cạnh đó, oxy hít vào nồng độ cao sẽ rửa trôi nitơ trong phế nang (denitrogenation); sau khi oxy được hấp thu nhanh vào mao mạch, lượng khí nâng đỡ phế nang trở nên thiếu hụt và thúc đẩy xẹp phổi do hấp thu. Suy giảm chức năng chất hoạt diện làm tăng sức căng bề mặt phế nang, càng đẩy nhanh quá trình xẹp phế nang.
Ứng dụng lâm sàng và liên hệ thực hành
Tài liệu tham khảo
[2] cho thấy siêu âm có thể được ứng dụng như thế nào trong chẩn đoán và điều trị xẹp phổi. Nghiên cứu này sử dụng
thang điểm xẹp phổi trên siêu âm phổi (Lung Ultrasound Atelectasis Score, LUAS) để đánh giá khách quan mức độ nặng của xẹp phổi. Về hướng điều trị, nghiên cứu cũng đánh giá
thủ thuật huy động phế nang (alveolar recruitment maneuver, ARM) và việc áp dụng
áp lực dương cuối thì thở ra tăng dần (incremental PEEP). ARM là chiến lược tạm thời áp dụng áp lực đường thở cao để mở lại các phế nang đã xẹp. Sau đó, việc tăng dần PEEP để tìm mức PEEP tối ưu là rất quan trọng nhằm ngăn các phế nang vừa được huy động lại xẹp xuống ở cuối thì thở ra. Việc nghiên cứu ghi nhận xẹp phổi trên siêu âm ở cả nhóm thở máy lẫn nhóm tự thở cho thấy: ngay cả với người bệnh tự thở không dùng máy thở tại phòng hồi tỉnh hay khoa hồi sức, điều dưỡng vẫn phải lưu ý nguy cơ xẹp phổi và theo dõi sát tình trạng hô hấp.
Dưới góc độ thi quốc gia, xẹp phổi không chỉ là việc học thuộc thuật ngữ mà còn gắn liền với các can thiệp điều dưỡng phòng ngừa biến chứng sau phẫu thuật. Khuyến khích hít thở sâu và ho, vận động sớm, sử dụng dụng cụ tập thở khuyến khích (incentive spirometry) đều là những can thiệp điều dưỡng dựa trên bằng chứng giúp tăng FRC, làm nở phế nang và phòng ngừa xẹp phổi. Với người bệnh có nguy cơ tắc nghẽn do nút nhầy, việc bù đủ dịch, làm ẩm không khí và dẫn lưu tư thế để tống xuất đờm dãi là hết sức cần thiết.
Tài liệu tham khảo (nguồn nghiên cứu)
- [1]
A Case of Right Middle Lobe Syndrome: A Rare Diagnosis Behind Chronic Pulmonary Symptoms.Báo cáo caZahid E, Sapkota NK, Parulkar A, Akella A, Shrestha A, Murshad M, Chowdhury T. (2025) · DOI: 10.7759/cureus.95099
- [2]
Evaluation of an ultrasound-guided alveolar recruitment technique with incremental PEEP in dogs: a clinical study.Bài báo nghiên cứuDi Franco C, Boysen S, Buonamici B, Evangelista F, Briganti A. (2026) · DOI: 10.1038/s41598-026-35202-4