Cơn bão giáp là tình trạng cường giáp mất bù (tỷ lệ tử vong 10 đến 30 phần trăm), biểu hiện bằng tăng thân nhiệt (thường trên 39 đến 40°C), nhịp tim nhanh nặng hoặc rung nhĩ, tăng huyết áp sau đó tiến triển thành hạ huyết áp, các triệu chứng tiêu hóa, biến đổi thần kinh từ kích động đến hôn mê. Dàn thuốc dùng là đa phương thức và phụ thuộc thời gian. Trình tự kinh điển: (1) PTU 500 đến 1000 mg liều tấn công, sau đó 250 mg mỗi 4 giờ, có tác dụng ức chế tổng hợp hormone mới và ức chế chuyển đổi T4 thành T3 ở ngoại vi (được ưu tiên hơn methimazole trong cơn bão giáp vì tác dụng ức chế chuyển đổi), (2) iod (SSKI hoặc Lugol) được dùng sau PTU ít nhất 1 giờ để ức chế giải phóng hormone đã được tổng hợp từ trước, không bao giờ dùng trước vì iod đơn thuần có thể kích thích tổng hợp (hiện tượng Jod-Basedow), (3) propranolol đường tĩnh mạch kiểm soát nhịp tim, làm giảm các triệu chứng adrenergic (run, kích động), và ở liều cao cũng làm giảm chuyển đổi T4 thành T3; dùng thuốc chẹn beta chọn lọc trên tim nếu có hen phế quản, (4) hydrocortisone 100 mg tĩnh mạch mỗi 8 giờ, ức chế chuyển đổi T4 thành T3 và điều trị suy thượng thận tương đối, (5) chăm sóc hỗ trợ: chăn làm mát, acetaminophen (tránh aspirin vì aspirin đẩy T4 khỏi protein gắn kết và làm nặng thêm cơn bão), truyền nước muối sinh lý tĩnh mạch, điều trị yếu tố khởi phát (nhiễm trùng, phẫu thuật, bỏ liều, căng thẳng), theo dõi tại ICU. Levothyroxine thì ngược lại với điều cần làm.
Chỉ dùng để tham khảo học tập. Luôn tuân theo hướng dẫn lâm sàng hiện hành và quy định của cơ sở bạn.